ABOUT US

Our development agency is committed to providing you the best service.

OUR TEAM

The awesome people behind our brand ... and their life motto.

  • Neila Jovan

    Head Hunter

    I long for the raised voice, the howl of rage or love.

  • Mathew McNalis

    Marketing CEO

    Contented with little, yet wishing for much more.

  • Michael Duo

    Developer

    If anything is worth doing, it's worth overdoing.

Làm đúng việc Tại đúng thời điểm.

We pride ourselves with strong, flexible and top notch skills.

Marketing

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

Websites

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

PR

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

ACHIEVEMENTS

We help our clients integrate, analyze, and use their data to improve their business.

150

GREAT PROJECTS

300

HAPPY CLIENTS

650

COFFEES DRUNK

1568

FACEBOOK LIKES

STRATEGY & CREATIVITY

Phasellus iaculis dolor nec urna nullam. Vivamus mattis blandit porttitor nullam.

PORTFOLIO

We pride ourselves on bringing a fresh perspective and effective marketing to each project.

  • CẤP THỊ THỰC ĐIỆN TỬ CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TỪ NGÀY

    CẤP THỊ THỰC ĐIỆN TỬ CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TỪ NGÀY


    01/02/2017.
    Đây là quy định tại Nghị quyết 30/2016/QH14 về thực hiện thí điểm cấp thị thực điện tử cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam.
    Kết quả hình ảnh cho CẤP THỊ THỰC ĐIỆN TỬ CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TỪ NGÀY

    Theo đó, người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam sẽ được cấp thị thực điện tử nếu:
    - Có hộ chiếu và không thuộc trường hợp chưa cho nhập cảnh.
    - Là công dân của nước có đủ các điều kiện sau:
    + Có quan hệ ngoại giao với Việt Nam;
    + Phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đối ngoại của Việt Nam trong từng thời kỳ;
    + Không làm phương hại đến quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội của Việt Nam.
    Người đề nghị cấp thị thực điện tử phải nộp phí cấp thị thực qua tài khoản ngân hàng và không được hoàn trả trong trường hợp không được cấp.
    Thị thực có giá trị nhập cảnh một lần và thời hạn là không quá 30 ngày.
    Danh sách các nước có công dân được thí điểm cấp thị thực điện tử; danh sách các cửa khẩu cho phép người nước ngoài nhập, xuất cảnh bằng thị thực điện tử do Chính phủ công bố.
  • PHÂN BIỆT TẠM GIỮ, TẠM GIAM

    PHÂN BIỆT TẠM GIỮ, TẠM GIAM

    Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
    Trong các biện pháp ngăn chặn này, tạm giữ và tạm giam là hai biện pháp rất dễ gây nhầm lẫn và nhiều người không phân biệt được. Do vậy, bài viết dưới đây của Văn phòng luật sư Đỗ Trung Kiên và cộng sự sẽ làm rõ hơn hai biện pháp ngăn chặn này để giải đáp thắc mắc của bạn đọc.
    Khi nào công dân bị tạm giữ/tạm giam?
    Thứ nhất, về tạm giữ: tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người:
    - Bị bắt trong trường hợp khẩn cấp:
    + Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
    + Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
    + Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.
    - Bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang: người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt
    - Người phạm tội tự thú, đầu thú;
    - Người bị bắt theo quyết định truy nã.
    Thứ hai, về tạm giam: tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau đây:
    - Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;
    - Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
    Cá nhân, cơ quan nào có thẩm quyền tạm giữ, tạm giam?
    - Người có quyền ra quyết định tạm giữ:
    + Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
    + Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
    + Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
    + Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển.
    - Người có thẩm quyền ra lệnh tạm giam:
    + Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;
    + Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;
    + Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;
    + Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp (phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành).
    Thời hạn tạm giam, tạm giữ là bao lâu?
    - Thời hạn tạm giữ: không được quá 03 ngày, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá 03 ngày. Trong trường hợp đặc biệt có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày. Như vậy, thời hạn tạm giữ không bao giờ được vượt quá 09 ngày.
    - Thời hạn tạm giam: thời hạn tạm giam được quy định riêng trong từng giai đoạn điều tra, chuẩn bị xét xử và sau xét xử.
    + Thời hạn tạm giam bị can để điều tra: không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
    Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp có thể gia hạn tạm giam: với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 01 lần không quá 01 tháng; với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 02 lần, lần thứ nhất không quá 02 tháng và lần thứ hai không quá 01 tháng; với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 02 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng, lần thứ hai không quá 02 tháng; với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
    Như vậy, thời hạn tạm giam bị can để điều tra sẽ không quá 03 tháng với tội phạm ít nghiêm trọng; không quá 06 tháng với tội phạm nghiêm trọng; không quá 09 tháng với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 16 tháng với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
    - Thời hạn tạm giam bị cáo để chuẩn bị xét xử: không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Tòa án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
    - Thời hạn tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: đối với bị cáo bị tuyên hình phạt tù (trừ trường hợp được hưởng án treo hoặc thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam) thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án. Thời hạn là 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  • PHÂN BIỆT ĐẦU THÚ VÀ TỰ THÚ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

    PHÂN BIỆT ĐẦU THÚ VÀ TỰ THÚ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

    Trong đời sống thực tế, nhiều người dân vẫn thường nhầm lẫn khi cho rằng khái niệm “tự thú” và “đầu thú” là giống nhau và đều được Nhà nước cho hưởng những chính sách khoan hồng như nhau. Tuy nhiên, trong tố tụng hình sự, đầu thú và tự thú rất khác nhau về bản chất pháp lý và cũng có tác động không nhỏ tới sự khác biệt về quyết định hình phạt trong mỗi trường hợp. Bài viết dưới đây của Văn phòng luật sư Đỗ Trung Kiên và cộng sự sẽ giúp bạn đọc có được cái nhìn phân biệt rõ ràng nhất về tự thú - đầu thú và ảnh hưởng của những hành vi này đối với người thực hiện tội phạm.
    Văn bản pháp luật đầu tiên quy định chi tiết về tự thú và đầu thú đó là Thông tư liên ngành số 05-BNV-TANDTC-VKSNDTC-BTP/TTLT ngày 02 tháng 06 năm 1990. Tuy nhiên, đến ngày 10 tháng 06 năm 2002, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 81/2002/TANDTC thì mới chính thức định nghĩa thế nào là tự thú và đầu thú. Theo Công văn này:
    - “Tự thú” là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội.
    - “Đầu thú” là có người đã biết mình phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
    Như vậy, theo định nghĩa nêu trên thì điểm mấu chốt để phân biệt đầu thú và tự thú đó là: đã có ai ngoài bản thân biết được mình đã phạm tội hay chưa? Lấy ví dụ thứ nhất: anh Nguyễn Văn A thấy nhà anh B đi vắng nên đã lẻn sang cậy cửa và lấy trộm chiếc xe đạp trị giá 03 triệu đồng. Đương nhiên nhà anh B biết bị mất xe đạp nhưng không biết do ai lấy. Sau 01 tháng, anh A thấy hối lỗi, chủ động mang xe sang trả gia đình anh B đồng thời ra cơ quan công an để khai báo về hành vi phạm tội của mình. Trường hợp này anh A được coi là tự thú. Ví dụ thứ hai: chị Phan Thị X đang trên đường đi làm về buổi tối thì gặp anh Y là người cùng làng. Anh Y thấy chị X xinh xắn liền nảy sinh dục vọng muốn cưỡng đoạt. Do vậy, anh Y đã tiếp cận, dùng sức lực để đẩy chị X xuống bãi cỏ và bắt đầu có những hành vi cởi quần áo trên người chị X. Tuy nhiên, đúng lúc đó có người đi xe máy đi qua, anh Y sợ hãi liền vội vàng mặc lại quần áo và chạy trốn. Trong lúc bỏ trốn, anh Y nghĩ lại biết chị X chắc chắn đã nhìn thấy mặt mình, biết mình là ai và sẽ tố cáo ra công an, do vậy, Y đến cơ quan công an khai báo về hành vi của mình. Trường hợp này, Y được coi là đầu thú.
    Điều 3 Bộ luật hình sự 1999 quy định về nguyên tắc xử lý tội phạm hình sự đó là: “Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra”. Tuy nhiên, so sánh giữa hai hành vi có thể thấy được mức độ tự nguyện, chủ động, ăn năn hối cải của người phạm tội ra tự thú lớn hơn rất nhiều so với ra đầu thú. Do đó, mức độ xem xét để giảm nhẹ hình phạt trong hai trường hợp này cũng có sự khác nhau đáng kể.
    Thứ nhất, việc xem xét miễn trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng với người phạm tội tự thú, không áp dụng trong trường hợp đầu thú. Cụ thể, Khoản 2 Điều 25 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự”. Như vậy, để được miễn trách nhiệm hình sự, người phạm tội phải có đầy đủ các điều kiện sau:
    + Tội phạm mà người phạm tội tự thú thực hiện chưa bị phát giác (tức là chưa có ai biết đã có hành vi phạm tội xảy ra, hoặc biết nhưng cũng không biết ai là thủ phạm).
    + Người tự thú phải khai rõ tất cả những hành vi đã thực hiện, những tình tiết của sự việc, khai ra đồng phạm nếu có, góp phần hiệu quả vào việc phát hiện điều tra tội phạm. Ví dụ, cũng trong trường hợp trộm cắp tài sản, Nguyễn Văn C lấy trộm của nhà anh D 10 cây vàng cùng một số nhẫn, dây chuyền khác. Sau khi D lấy trộm đã mang số tài sản trên chôn ở nhiều nơi khác nhau. Khi chưa tìm được hung thủ là ai, C đã đến khai báo hành vi phạm tội của mình với cơ quan cảnh sát điều tra. Tuy nhiên, C chỉ khai đã lấy trộm vàng và chỉ cung cấp thông tin về nơi giấu vàng, tuyệt nhiên không nhắc đến số nữ trang còn lại. Trong quá trình điều tra, khám xét, cơ quan cảnh sát phát hiện ra ngoài số vàng mà C khai báo, C còn giấu giếm nữ trang ở nơi khác. Do vậy, trường hợp này mặc dù C tự thú nhưng đã chưa khai báo thành khẩn tất cả các sự việc, nên không được miễn trách nhiệm hình sự.
    + Người tự thú cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm như: trả lại cho chủ sở hữu tài sản đã chiếm đoạt; thông báo kịp thời cho người bị hại biết những gì đang đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm danh dự hoặc tài sản để họ đề phòng; đòi lại hoặc thu lại những phương tiện, công cụ hoặc các nguồn nguy hiểm mà họ đã giao hoặc đã tạo ra cho người đồng phạm khác hoặc cho những lợi ích khác… Chẳng hạn như: vì nghi ngờ chị H có quan hệ bất chính với chồng mình, chị K đã thuê một nhóm người theo dõi và đe dọa, đánh “dằn mặt” chị H. Tuy nhiên, khi thấy chị H rất xinh đẹp, nhóm nam thanh niên nổi lên ý đồ muốn hiếp dâm và gọi điện cho chị K nói rằng sẽ “xử nặng tay” giúp chị rồi tắt máy. Cuộc điện thoại khiến chị K lờ mờ đoán được ý đồ của đám thanh niên, chị K vội vàng gọi điện cho H để thông báo nhưng không thấy H nghe máy. Sau đó, chị K đã đến trình báo tại cơ quan công an, nhanh chóng cung cấp tất cả những thông tin về đám thanh niên, nơi làm việc, nơi ở và lộ trình theo dõi để cơ quan công an mau chóng tìm được. Nhờ có những thông tin của chị K, công an đã lập tức phát hiện ra đám thanh niên đã chặn chị H đưa vào một nơi hoang vắng gần nơi làm việc, đang có hành vi dọa dẫm đe nạt và đùa cợt nhưng chưa xảy ra sự xâm hại nghiêm trọng nào với chi H. Trong trường hợp này, chị K có thể được xem xét để miễn trách nhiệm hình sự.
    Thứ hai, cùng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng tự thú là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, còn đầu thú chỉ được xem xét tại Khoản 2.
    + Điểm o Khoản 1 Điều 46 quy định trường hợp “người phạm tội tự thú” được coi là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong khi đó, Điều 47 quy định: “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”. Như vậy, chỉ khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 thì người phạm tội mới được xem xét áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
    + Nếu người phạm tội đầu thú thì trong thực tế, Hội đồng xét xử vẫn coi đây là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nhưng nếu chỉ có tình tiết là đầu thú và một tình tiết giảm nhẹ nữa được quy định tại Khoản 1 thì vẫn không đủ cơ sở pháp lý để Hội đồng xét xử xem xét quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
    Như vậy, nhận biết được như thế nào về tự thú và đầu thú và những chính sách của Nhà nước áp dụng đối với hai trường hợp này, sẽ giúp cho người phạm tội có những suy nghĩ tích cực, lạc quan hơn sau khi thực hiện tội phạm, nhanh chóng khai báo thành khẩn mọi tình tiết sự việc với cơ quan điều tra, ăn năn hối lỗi, góp phần hạn chế thấp nhất hậu quả của tội phạm và sẽ được hưởng khoan hồng xứng đáng.
  • http://www.ayudadeblogger.com/

    Quảng cáo

    Quảng cáo

    Về Template

    Review Nổi bật

    Review của tuần

    WHAT WE DO

    We've been developing corporate tailored services for clients for 30 years.

    CONTACT US

    For enquiries you can contact us in several different ways. Contact details are below.

    Hỏi đáp luật doanh nghiệp

    • Street :Road Street 00
    • Person :Person
    • Phone :+045 123 755 755
    • Country :POLAND
    • Email :contact@heaven.com

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation.