PHÂN BIỆT TẠM GIỮ, TẠM GIAM
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
Trong các biện pháp ngăn chặn này, tạm giữ và tạm giam là hai biện pháp rất dễ gây nhầm lẫn và nhiều người không phân biệt được. Do vậy, bài viết dưới đây của Văn phòng luật sư Đỗ Trung Kiên và cộng sự sẽ làm rõ hơn hai biện pháp ngăn chặn này để giải đáp thắc mắc của bạn đọc.
Khi nào công dân bị tạm giữ/tạm giam?
Thứ nhất, về tạm giữ: tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người:
- Bị bắt trong trường hợp khẩn cấp:
+ Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
+ Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
+ Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.
- Bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang: người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt
- Người phạm tội tự thú, đầu thú;
- Người bị bắt theo quyết định truy nã.
Thứ hai, về tạm giam: tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau đây:
- Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;
- Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Cá nhân, cơ quan nào có thẩm quyền tạm giữ, tạm giam?
- Người có quyền ra quyết định tạm giữ:
+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
+ Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
+ Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
+ Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển.
- Người có thẩm quyền ra lệnh tạm giam:
+ Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;
+ Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;
+ Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử;
+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp (phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành).
Thời hạn tạm giam, tạm giữ là bao lâu?
- Thời hạn tạm giữ: không được quá 03 ngày, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá 03 ngày. Trong trường hợp đặc biệt có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày. Như vậy, thời hạn tạm giữ không bao giờ được vượt quá 09 ngày.
- Thời hạn tạm giam: thời hạn tạm giam được quy định riêng trong từng giai đoạn điều tra, chuẩn bị xét xử và sau xét xử.
+ Thời hạn tạm giam bị can để điều tra: không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp có thể gia hạn tạm giam: với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 01 lần không quá 01 tháng; với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 02 lần, lần thứ nhất không quá 02 tháng và lần thứ hai không quá 01 tháng; với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 02 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng, lần thứ hai không quá 02 tháng; với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
Như vậy, thời hạn tạm giam bị can để điều tra sẽ không quá 03 tháng với tội phạm ít nghiêm trọng; không quá 06 tháng với tội phạm nghiêm trọng; không quá 09 tháng với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 16 tháng với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Thời hạn tạm giam bị cáo để chuẩn bị xét xử: không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Tòa án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
- Thời hạn tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: đối với bị cáo bị tuyên hình phạt tù (trừ trường hợp được hưởng án treo hoặc thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam) thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án. Thời hạn là 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.